HỒ TÙNG MẬU - SỬ XANH IN ĐẬM LÒNG YÊU NƯỚC

Thứ sáu - 12/06/2026 12:10 447 0
Khi nghiên cứu về vùng đất và con người Xứ Nghệ, nhiều học giả từ xưa đến nay đều nhấn mạnh “Hồn thiêng sông núi” như một đặc tính nổi bật của đất “Địa linh, nhân kiệt” vào bậc nhất Việt Nam. Vì thế mà trong Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú có ghi: “Nghệ An núi cao sông sâu, phong tục trọng hậu, cảnh tượng tươi sáng, gọi là đất có danh tiếng. Người thì thuần hoà mà chăm học, sản vật thì nhiều thức quý của lạ. Những vị thần ở núi, ở biển, phần nhiều có tiếng linh thiêng. Được khí tốt của sông núi, nên sinh ra nhiều bậc danh hiền...”.
image001
Chỉ riêng thế kỷ XX, trong biết bao tên tuổi của những người con Nghệ An góp phần rạng danh non sông gấm vóc Việt Nam, Hồ Tùng Mậu là một trong những tấm gương tiêu biểu cho tinh thần yêu nước cách mạng, một người cộng sản kiên trung, cả cuộc đời vì dân vì nước.
TRUYỀN THỐNG QUÊ HƯƠNG VÀ GIA ĐÌNH
Nếu nói Xứ Nghệ là một trong những vùng đất giàu truyền thống văn hoá - cách mạng vào bậc nhất đất Việt, thì Quỳnh Lưu là một trong những miền quê giàu truyền thống văn hoá - cách mạng vào bậc nhất Xứ Nghệ - là phên giậu phía Bắc của vùng đất Hoan Diễn xưa. Nơi đây từng được nhắc đến là một miền chiến địa, gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Như thơ xưa đã chép:
Kim cổ Quỳnh Lưu nhiều tuấn kiệt,
Toàn người cưỡi ngựa, bắn cung hay.
Nói đến truyền thống yêu nước và hiếu học của người Quỳnh Lưu không thể không nhắc đến làng Quỳnh Đôi. Người xưa có câu: “Bắc Hà Hành Thiện, Hoan Diễn Quỳnh Đôi”. Nghĩa là khắp các tỉnh phía Bắc nổi tiếng hiếu học đỗ đạt là làng Hành Thiện, tỉnh Nam Định; vùng Nghệ An, Hà Tĩnh nổi tiếng nhất là làng Quỳnh Đôi. Người ta cũng không thể không nhắc đến dòng họ Hồ nổi tiếng từ nhiều đời nay với bao danh nhân, chí sĩ như: Đông các đại học sĩ Hồ Sỹ Dương, Hoàng giáp Hồ Sỹ Đống, Tiến sĩ Hồ Phi Tích, Nữ sĩ Hồ Xuân Hương,...
image003
Hồ Tùng Mậu lớn lên trong sự giao hoà giữa truyền thống quê hương và truyền thống gia đình. Ông nội là cụ Nghè Hồ Bá Ôn, làm quan Án sát Nam Định. Khi giặc Pháp tiến đánh thành Nam Định năm 1883, dù không phải là quan võ nhưng Hồ Bá Ôn đã tập hợp quan quân yêu nước tổ chức chiến đấu giữ thành. Thế giặc quá mạnh, thành Nam Định bị thất thủ sau những trận chiến đấu anh dũng. Hồ Bá Ôn bị thương nặng và không qua khỏi. Nghe tin ông mất, Vua Tự Đức đã tự tay ghi vào tờ biểu báo tang: “Không tránh sự chết, cùng chết với thành, Hồ Bá Ôn hơn người lánh nạn xa lắm”.
Cha Hồ Tùng Mậu là Hồ Bá Kiện, đỗ Cử nhân nhưng không ra làm quan mà đi theo phong trào Văn thân chống Pháp. Ông bị giặc Pháp bắt ở Sơn Tây và bị đày đi Lao Bảo. Trong lao tù, ông đã chỉ huy bạn chiến đấu vượt ngục, đánh chiếm nhà tù và hy sinh anh dũng.
Hồ Tùng Mậu sinh ngày 15/6/1896, tên khai sinh là Hồ Bá Cự. Năm Hồ Bá Cự lên 9 tuổi, là lúc cụ Phan Bội Châu xuất dương. Khi Hồ Bá Cự ở tuổi 15, thì người thanh niên Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước. Giai đoạn ấy, các phong trào như Đông Du, Cần Vương lần lượt thất bại. Phan Bội Châu lận đận nơi đất khách quê người. Nguyễn Ái Quốc bôn ba, chịu nhiều sóng gió trên khắp các châu lục. Ngôi sao ấy bắt đầu sáng bên bầu trời Âu, và chiếu rọi về Tổ quốc mình một thứ ánh sáng mới. Năm 1920, noi theo tấm gương của các bậc tiền bối, Hồ Bá Cự xuất dương và chính thức bước vào cuộc đời cách mạng với tên gọi Hồ Tùng Mậu.
MỘT ĐỜI VÌ NƯỚC
Cuộc gặp giữa Nguyễn Ái Quốc và các thành viên của Tâm Tâm Xã vào tháng 12/1924 tại Quảng Châu đã mở đầu cho mối quan hệ mật thiết giữa Hồ Tùng Mậu và Nguyễn Ái Quốc. Ông trở thành cộng sự đắc lực của Nguyễn Ái Quốc trên con đường cách mạng mà Người đã chọn. Ngôi nhà số 13 đường Văn Minh ở Quảng Châu - Trung Quốc giờ đã trở thành một di tích lịch sử được trân trọng - nơi Nguyễn Ái Quốc mở các lớp bồi dưỡng chính trị cách mạng, trong đó phần lớn thanh niên yêu nước tham gia đều do Hồ Tùng Mậu tuyển chọn từ Việt Nam đưa sang. Cũng chính Hồ Tùng Mậu đã cùng Lê Hồng Sơn trực tiếp làm trợ giảng trong các khoá học do Nguyễn Ái Quốc tổ chức. Đây chính là cái nôi chính trị đầu tiên, đào tạo nên biết bao tên tuổi lớn của cách mạng Việt Nam sau này...
image004
Những năm 1929 - 1930, tình hình cách mạng cả trong và ngoài nước đều diễn biến khá phức tạp. Trong khi Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở Xiêm thì bằng nhìn nhận sắc sảo của một nhà cách mạng nhạy bén, Hồ Tùng Mậu đã kịp thời nhận ra nguy cơ chia rẽ, phân hoá khi có nhiều tổ chức cộng sản ra đời và hoạt động riêng lẻ. Ông và một số đồng chí khác đã tích cực vận động chống sự phân biệt giữa các tổ chức cộng sản, đồng thời cử người sang thông báo cho Nguyễn Ái Quốc. Nhờ đó, Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam họp tại Hương Cảng (từ ngày 6/1 - 7/2/1930) do Nguyễn Ái Quốc chủ trì đã diễn ra kịp thời, an toàn và thành công.
Tháng 6/1931, Nguyễn Ái Quốc bị Cảnh sát Anh bắt giam tại Hương Cảng. Bằng sự mẫn cảm và khả năng xử lý tình huống linh hoạt, Hồ Tùng Mậu đã nhanh chóng liên hệ với Hội Cứu tế Đỏ nhờ can thiệp và vận động luật sư Loseby đứng ra bào chữa, buộc chính quyền Anh phải trả tự do cho Nguyễn Ái Quốc. Nhưng hoạt động của Hồ Tùng Mậu và các nhà yêu nước Việt Nam không thể qua mắt Quốc dân Đảng (của Tưởng Giới Thạch), cảnh sát Anh và mật thám Pháp. Ba lần ông bị Quốc dân Đảng bắt giam nhưng chúng phải trả tự do vì không đủ chứng cứ kết tội. Tháng 6/1931, ông bị mật thám Anh bắt, sau đó giải về Thượng Hải trao cho mật thám Pháp đưa về Việt Nam xét xử. Ngày 6/12/1931, toà án thực dân Pháp kết án tử hình Hồ Tùng Mậu lần thứ hai, do kháng cáo nên ông được chuyển xuống khổ sai chung thân. Từ Nhà lao Vinh, ông bị đày đi Lao Bảo, rồi nhà ngục Kon Tum, Buôn Mê Thuột.
Suốt 13 năm trong tù, Hồ Tùng Mậu vẫn giữ vững khí tiết, tinh thần lạc quan, luôn dùng thơ văn để cùng bạn tù nuôi dưỡng ý chí đấu tranh cách mạng. Tổng tập văn học Việt Nam còn lưu khá nhiều bài thơ mà Hồ Tùng Mậu viết trong tù với nỗi niềm khắc khoải, khát vọng đấu tranh và niềm tin chiến thắng của người chiến sĩ cộng sản: “Cái nợ non sông trót hẹn hò/ Đường đời bao quản bước quanh co.../ Anh hùng khôn luận nơi thành bại/ Thà chết còn hơn mất tự do” .
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Hồ Tùng Mậu được Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mời ra gánh vác việc nước trong bối cảnh khó khăn chồng chất. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp giao cho ông làm Chính uỷ và Khu trưởng Khu 4. Suốt những năm tháng này, Hồ Tùng Mậu luôn làm việc quên mình. Ông thực sự có uy tín lớn trong Nhân dân và trong đội ngũ cán bộ, được mọi người thân mật và kính cẩn gọi là “Cụ Mậu, Cụ Hồ em”. Chính Thiếu tướng Nguyễn Sơn đã nói: “Cả nước ta có Cụ Hồ Chí Minh; ở Khu 4, chúng ta còn có Cụ Hồ em”.
Ngày 18/12/1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh thành lập Ban Thanh tra Chính phủ và cử ông giữ chức vụ Tổng Thanh tra Chính phủ.
Đầu năm 1950, Hội Hữu nghị Việt - Hoa được thành lập. Ông được bầu làm Hội trưởng đầu tiên của Hội. Tại Đại hội Đảng lần thứ II vào tháng 2/1951, ông được bầu là Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đặc biệt, trong thời kỳ làm Tổng Thanh tra của Chính phủ, với phẩm chất đạo đức thanh liêm, trung thực, sâu sát, Hồ Tùng Mậu đã hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Ngay cả khi nghe tin người con trai duy nhất là Hồ Mỹ Xuyên, nguyên Phó Bí thư Tỉnh uỷ Nghệ An, được Trung ương Đảng điều ra nhận nhiệm vụ Kiểm tra Đảng đã hy sinh trên đường đi công tác ở tỉnh Yên Bái lúc mới 28 tuổi, ông vẫn nén lòng, không để ảnh hưởng đến công tác... Ông nuốt thầm những giọt đau, tiếp tục hoàn thành sứ mệnh của một người cán bộ cách mạng. Và chính Bác Hồ đã xúc động viết trong bức thư gửi Hồ Tùng Mậu: “Tôi cũng rất đau xót trước việc cháu Xuyên hy sinh. Cháu Xuyên mất đi, chú mất một người con, tôi mất một người cháu, Nhân dân mất một chiến sĩ, đoàn thể mất một cán bộ”.
Ngày 23/7/1951, Hồ Tùng Mậu đang trên đường vào Liên khu 4 công tác, khi đi qua phố Còng, huyện Tĩnh Gia, Thanh Hoá thì bị máy bay Pháp phát hiện, đuổi bắn. Và ông đã hy sinh khi mới 55 tuổi đời. Nhận được tin Hồ Tùng Mậu hy sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tự tay viết bài điếu vĩnh biệt:
“Chú Tùng Mậu ơi!
Lòng ta rất đau xót, linh hồn chú biết chăng?
Về tình nghĩa riêng: Tôi với chú là đồng chí, lại là thân thiết hơn anh em ruột. Khi hoạt động ở đất khách quê người, khi bị giam ở lao tù đế quốc, khi đấu tranh ở nước nhà, hơn 25 nǎm, đã bao phen chúng ta đồng cam cộng khổ, như tay với chân.
... Mất chú là đồng bào mất một người lãnh đạo tận tuỵ, Chính phủ mất một người cán bộ lão luyện, Đoàn thể mất một người đồng chí trung thành, và tôi mất một người anh em chí thiết.
Mấy nguồn thương tiếc cộng vào một lòng tôi...
Tôi gạt nước mắt, thay mặt Chính phủ nghiêng mình trước linh hồn chú, và truy tặng chú Huân chương Hồ Chí Minh, để nêu công lao của chú đối với đồng bào, đối với Tổ quốc...”.
 Những lời điếu sâu nặng, xót thương của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói lên tất cả tình cảm chí cốt và sự đánh giá cao của Người, của Đảng và Nhân dân về tấm gương đạo đức cách mạng, công lao to lớn của Hồ Tùng Mậu đối với Tổ quốc, với Nhân dân.
***
Ngày 18/1/2008, đồng chí Hồ Tùng Mậu được truy tặng Huân chương Sao Vàng, Huân chương cao quý nhất của Nhà nước Việt Nam. Với 55 tuổi đời (1896 - 1951), đồng chí Hồ Tùng Mậu có đến 31 năm hoạt động cách mạng (1920 - 1951), trong đó hơn 14 năm bị giam cầm, đày ải trong các nhà lao đế quốc, 5 lần bị địch bắt, 2 lần bị kết án tử hình. Bất luận trong hoàn cảnh nào, đồng chí cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, không màng danh lợi, hy sinh tất thảy cho cách mạng.
Đồng chí thật xứng đáng với lời thơ ca tụng:
Sử xanh in đậm lòng yêu nước
Gươm bạc ghi sâu chí phục thù
Đoàn kết nhớ công xây dựng mãi
Non Hồng cao ngất, nước Lam sâu.
Tháng 2/2025
Khánh Ly
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập17
  • Hôm nay5,834
  • Tháng hiện tại7,474
  • Tổng lượt truy cập22,238,109
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây